Hiển thị các bài đăng có nhãn 50 Lý Do Chúa Jêsus Đến Để Chịu Chết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 50 Lý Do Chúa Jêsus Đến Để Chịu Chết. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 23 tháng 9, 2013

Lý do 36: "Tạo Ra Một Dân Có Lòng Sốt Sắng Về Các Việc Lành"

50 Lý Do Để Chúa Jêsus Chịu Chết
Tạo ra một dân có lòng sốt sắng về các việc lành

là Đấng liều mình vì chúng ta, để chuộc chúng ta khỏi mọi tội và làm cho sạch, đặng lấy chúng ta làm một dân thuộc riêng về Ngài, là dân có lòng sốt sắng về các việc lành” (Tít 2:14).

            Ngay ở trọng tâm Cơ đốc giáo là lẽ thật cho rằng chúng ta được Đức Chúa Trời tha thứ và tiếp nhận, không phải vì chúng ta đã làm nhiều việc lành đâu, mà là giúp chúng ta có khả năng và nhiệt huyết để làm các việc lành đó. Kinh thánh chép:Ấy chính Chúa đã cứu chúng ta, … chẳng phải theo việc làm chúng ta (II Timôthê 1:9). Những việc lành không phải là nền tảng của sự chúng ta được tiếp nhận, mà là bông trái của nó. Đấng Christ đã chịu khổ và chịu chết không phải vì chúng ta dâng cho Ngài những việc lành, mà Ngài đã chịu chết “và làm cho sạch, đặng lấy chúng ta làm một dân thuộc riêng về Ngài, là dân có lòng sốt sắng về các việc lành” (Tít 2:14).
            Đây là ý nghĩa của ân điển. Chúng ta không thể có được chỗ đứng phải lẽ với Đức Chúa Trời vì cớ những việc làm của chúng ta. Chỗ đứng ấy phải là một sự ban cho rời rộng kìa. Chúng ta có thể nhận lãnh chỗ đứng ấy bởi đức tin, ấp ủ nó như báu vật quí báu của mình. Đây là lý do tại sao Kinh thánh chép: Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình (Êphêsô 2:8-9). Đấng Christ đã chịu khổ và đã chịu chết hầu cho các việc lành sẽ là quả, chớ không phải nhân, của sự chúng ta được tiếp nhận.
            Vì thế, chẳng có gì phải ngạc nhiên khi câu kế chép:vì chúng ta … dựng nên trong Đức Chúa Jêsus Christ để làm việc lành (Êphêsô 2:10). Nghĩa là, chúng ta được cứu để làm các việc lành, chớ không phải bởi các việc lành. Và mục đích của Đấng Christ không phải là khả năng để thực hiện chúng, mà là niềm đam mê để thực hiện chúng. Đấy là lý do tại sao Kinh thánh sử dụng từ ngữ “sốt sắng”. Đấng Christ đã chịu chết để khiến chúng ta phải “sốt sắng về các việc lành”. Sốt sắng của nghĩa là đam mê. Đấng Christ không chịu chết để khiến các việc lành ra khả thi hay để tạo ra một sự theo đuổi nửa vời. Ngài đã chịu chết để tạo ra một niềm đam mê về các việc lành. Sự thanh sạch Cơ đốc không phải là tránh né điều ác, mà là theo đuổi điều lành.
            Có những lý do tại sao Chúa Jêsus đã trả cái giá vô hạn để tạo ra niềm đam mê về các việc lành. Ngài đã cung ứng lý do chính bằng mấy lời nầy: Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời (Mathiơ 5:16). Đức Chúa Trời được tỏ ra là vinh hiển bởi các việc lành của Cơ đốc nhân. Về sự vinh hiển ấy Đấng Christ đã chịu khổ và chịu chết.
            Khi sự tha thứ và tiếp nhận của Đức Chúa Trời buông tha chúng ta không còn sợ hãi, kiêu ngạo, tham lam, chúng ta được đầy dẫy với lòng sốt sắng yêu thương tha nhân theo cách chúng ta được yêu thương. Chúng ta phó thác của cải và mạng sống của chúng ta kể từ khi chúng ta được an ninh trong Đấng Christ. Khi chúng ta yêu thương tha nhân giống như vầy, cách ăn ở của chúng ta ngược lại với sự tự cấp và tự quản của con người. Đức Chúa Trời, là Kho Báu và Sự An Ninh làm biến đổi đời sống, hãy chú ý vào đấy.
            Và đâu là “các việc lành” nầy? Không giới hạn phạm vi của chúng, Kinh thánh chủ yếu nói tới việc giúp đỡ con người trong chỗ cần kíp, đặc biệt những người nghèo khó và chịu khổ nhiều nhất. Thí dụ, Kinh thánh chép: Những người bổn đạo ta cũng phải học tập chuyên làm việc lành, đặng giùm giúp khi túng ngặt, hầu cho họ khỏi đưng đi mà không ra trái (Tít 3:14). Đấng Christ đã chịu chết để biến chúng ta thành loại người nầy — đam mê giùm giúp kẻ nghèo và kẻ bị hư mất. Đó là cuộc sống tốt đẹp nhất, bất luận là giá nào đối với chúng ta trong đời nầy: Họ nhận được sự giùm giúp, chúng ta được vui vẻ, Đức Chúa Trời nhận được sự vinh hiển.


Thứ Năm, 29 tháng 8, 2013

Lý do 35: "Để Ban Ý Nghĩa Sâu Sắc Nhất Cho Hôn Nhân"

50 Lý Do Để Chúa Jêsus Chịu Chết
Để Ban Ý Nghĩa Sâu Sắc Nhất Cho Hôn Nhân
            “Hỡi người làm chồng, hãy yêu vợ mình, như Đấng Christ đã yêu Hội thánh, phó chính mình vì Hội thánh(Êphêsô 5:25).
            Thiết kế của Đức Chúa Trời dành cho hôn nhân trong Kinh thánh phác hoạ người chồng yêu thương vợ mình theo cách Đấng Christ yêu thương dân sự Ngài, và người vợ đáp ứng với chồng mình theo cách dân sự của Đấng Christ đáp ứng lại với Ngài. Hình ảnh nầy đã có ở trong trí của Đức Chúa Trời khi Ngài sai Đấng Christ vào trong thế gian. Đấng Christ đã đến vì cô dâu của Ngài, đã chịu chết vì nàng để tỏ ra cho thấy ý nghĩa thể nào về hôn nhân.
            Không, mục đích của phép loại suy không có ý nói những người làm chồng phải chịu khổ nơi tay của vợ mình. Thực vậy, theo một ý nghĩa thì việc đã xảy ra cho Chúa Jêsus. Ngài đã chịu khổ để đem một số người — cô dâu — vào sự sống, và chính số người nầy đã có mặt giữa vòng những người đã gây ra sự thương khó của Ngài. Và phần nhiều sự buồn rầu của Ngài nằm ở chỗ các môn đồ Ngài đã lìa bỏ Ngài (Mathiơ 26:56). Những mục đích của phép loại suy cho thấy Chúa Jêsus thể nào đã yêu thương họ đến chỗ phải gục chết mà không xua họ đi.
            Ý tưởng của Đức Chúa Trời dành cho hôn nhân đã có trước sự hội hiệp của Ađam và Êva cùng sự đến của Đấng Christ. Chúng ta biết rõ điều nầy khi vị Sứ đồ của Đấng lên tiếng giải thích lẽ mầu nhiệm của sự hôn nhân, ông đi ngược lại phần mở đầu của Kinh thánh rồi trưng dẫn Sáng thế ký 2:24: Bởi vậy cho nên người nam sẽ lìa cha mẹ mà dính díu cùng vợ mình, và cả hai sẽ trở nên một thịt”.
            Rồi, ở trong câu kế tiếp, ông giải thích cái điều mà ông mới vừa trưng dẫn: Vậy nên người đàn ông phải lìa cha mẹ mà dính díu với vợ mình, hai người cùng nên một thịt. Sự mầu nhiệm ấy là lớn, tôi nói về Đấng Christ và Hội thánh vậy (Êphêsô 5:31-32).
            Nói như thế có nghĩa là trong lý trí của Đức Chúa Trời, hôn nhân đã được thiết dựng lúc ban đầu để bày tỏ ra mối quan hệ của Đấng Christ với dân sự của Ngài. Lý do hôn nhân được gọi là “lẽ mầu nhiệm”, ấy là mục đích dành cho cuộc hôn nhân không được tỏ ra rõ ràng cho tới chừng Đấng Christ ngự đến. Giờ đây, chúng ta nhìn thấy cuộc hôn nhân ấy tỏ ra tình yêu thương của Đấng Christ dành cho dân sự Ngài mà ai sống trên thế gian cũng trông thấy.
            Một khi điều nầy đã có trong lý trí của Đức Chúa Trời ngay từ lúc sáng thế, điều ấy cũng ở trong lý trí của Đấng Christ khi Ngài đối diện với sự chết. Ngài biết rõ ở giữa nhiều tác động của sự Ngài chịu thương khó là điều nầy đây: làm cho ý nghĩa sâu sắc nhất của hôn nhân ra đơn giãn. Mọi sự thương khó của Ngài đều trở thành một sứ điệp đặc biệt cho những người làm chồng: Đây là cách mà từng người làm chồng phải thương yêu vợ mình.
            Mặc dầu Đức Chúa Trời không chủ ý, từ lúc sáng thế, làm cho những cuộc hôn nhân phải rơi vào khổ sở,  như có nhiều trường hợp đã rồi. Đấy là những gì tội lỗi đang thực hiện. Nó khiến cho chúng ta đối xử tồi tệ với nhau. Đấng Christ đã chịu khổ và chịu chết để thay đổi sự ấy. Những người làm vợ đều có trách nhiệm của họ trong sự thay đổi nầy. Nhưng Đấng Christ cung ứng phần trách nhiệm đặc biệt cho những người làm chồng. Đấy là lý do tại sao Kinh thánh chép: Hỡi người làm chồng, hãy yêu vợ mình, như Đấng Christ đã yêu Hội thánh, phó chính mình vì Hội thánh (Êphêsô 5:25).
            Những người làm chồng không phải là Đấng Christ. Song họ được kêu gọi để sống giống như Ngài. Và cái điểm giống đặc biệt nầy là thái độ sẵn sàng của người chồng phải chịu khổ vì ích cho vợ mình mà chẳng có sự răn đe hay ngược đãi nàng. Điều nầy bao gồm sự chịu khổ để bảo vệ nàng tránh bất kỳ một thế lực nào ở bên ngoài sẽ làm tổn hại nàng, cũng như phải chịu đựng những thất vọng hoặc thậm chí những ngược đãi đối với nàng. Loại yêu thương nầy vốn khả thi vì Đấng Christ đã chịu chết cho cả chồng và vợ. Tội lỗi của họ đã được tha.
            Không nên làm cho người kia phải chịu khổ vì cớ tội lỗi. Đấng Christ đã gánh chịu nỗi khổ đó rồi. Giờ đây, khi hai người phạm tội và đã được tha thứ, chúng ta có thể lấy thiện báo ác.


Thứ Bảy, 6 tháng 4, 2013

Lý do 33: Biến Thập Tự Giá Thành Lý Do Cho Mọi Sự Khoe Mình Của Chúng Ta"

50 Lý Do Để Chúa Jêsus Chịu Chết

Biến thập tự giá thành lý do
cho mọi sự khoe mình của chúng ta

            “Còn như tôi, tôi hẳn chẳng khoe mình, trừ ra khoe về thập tự giá của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, bởi thập tự giá ấy, thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh, và tôi đối với thế gian cũng vậy!Galati 6:14”.
           
            Điều nầy dường như là đỉnh cao rồi đấy. Chỉ khoe về thập tự giá mà thôi! Thực sao? Có thực là chỉ khoe về thập tự giá thôi ư? Ngay cả Kinh thánh nói tới nhiều việc khác cần phải khoe nữa. Khoe về sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Rôma 5:2). Khoe về những cơn hoạn nạn của chúng ta (Rôma 5:3). Khoe về tình trạng yếu đuối của chúng ta (II Côrinhtô 12:9). Khoe về nhân sự của Đấng Christ (I Têsalônica 2:19). Vậy thì “trừ ra” muốn nói gì ở đây?
            “Trừ ra” muốn nói tới mọi thứ khoe khác vẫn là một sự khoe khoang về thập tự giá. Nếu chúng ta khoe về hy vọng nơi sự vinh hiển, cái khoe ấy phải là cái khoe về thập tự giá của Đấng Christ. Nếu chúng ta khoe về nhân sự của Đấng Christ, chính cái khoe ấy phải là cái khoe về thập tự giá.
            Chỉ khoe nơi thập tự giá có nghĩa là chỉ có thập tự giá mới có thể giúp cho từng cái khoe hợp lý khác, và từng cái khoe hợp lý vì lẽ đó tôn vinh thập tự giá.
            Tại sao chứ? Vì từng việc tốt lành — quả thật, ngay cả từng việc tồi tệ Đức Chúa Trời đổi thành tốt lành — được chúng ta nhận lãnh bởi thập tự giá của Đấng Christ. Tẻ tách ra khỏi đức tin nơi Đấng Christ, hạng tội nhân chỉ nhận lãnh sự phán xét mà thôi. Phải, có nhiều việc thú vị đến với người chưa tin Chúa.
            Nhưng Kinh thánh dạy rằng ngay cả những phước hạnh tự nhiên nầy của cuộc sống chỉ sẽ làm tăng mức độ nghiêm trọng sự phán xét của Đức Chúa Trời vào lúc cuối cùng, nếu họ không tiếp nhận với những sự cảm tạ trên cơ sở sự thương khó của Đấng Christ (Rôma 2:4-5).
            Vì lẽ đó, mọi sự mà chúng ta đang vui hưởng, là hạng người biết tin cậy Đấng Christ, đều mắc nợ đối với sự chết của Ngài. Sự thương khó của Ngài cuốn lấy hết mọi sự phán xét mà hạng tội nhân tội lỗi đáng phải chịu và đã mua lấy mọi thứ tốt lành cho hạng tội nhân được tha tội đang vui hưởng. Vì vậy, mọi sự khoe mình của chúng ta về những việc nầy phải là khoe mình về thập tự giá của Đấng Christ. Chúng ta không phải là hạng người lấy Đấng Christ làm trọng tâm và ấp ủ thập tự giá như chúng ta đáng phải có, vì chúng ta không suy gẫm sự thật rằng mọi thứ tốt lành, và mọi thứ xấu xa mà Đức Chúa Trời đổi thành tốt lành, đã được mua lấy bởi những sự thương khó của Đấng Christ.
            Và làm thế nào chúng ta trở thành hạng người lấy thập tự giá làm trung tâm? Chúng ta phải tỉnh thức đối với sự thực khi Đấng Christ chịu chết trên thập tự giá, chúng ta đã chết (xem chương 31). Khi điều nầy xảy ra cho sứ đồ Phaolô, ông nói: “Thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh, và tôi đối với thế gian cũng vậy! (Galati 6:14). Đây là chìa khoá cho việc khoe khoang về thập tự giá lấy Đấng Christ làm trung tâm.
            Khi bạn đặt lòng tin cậy nơi Đấng Christ, sự hấp dẫn áp đảo của thế gian sẽ bị phá vỡ. Bạn là một cái xác trong thế gian, và thế gian là một cái xác đối với bạn. Hoặc nói một cách tích cực, bạn là một “người mới” (Galati 6:15). Hỡi ngươi, người cũ đã chết. Hỡi ngươi, người mới đang sống — là người có đức tin nơi Đấng Christ. Và cái điều đánh dấu đức tin nầy, ấy là nó đặt Đấng Christ ở trên mọi thứ trong thế gian. Quyền lực của thế gian muốn ve vãn tình cảm của bạn đã gục chết.
            Đã chết đối với thế gian có nghĩa là từng khoái lạc trong thế gian trở thành bằng chứng mua bằng huyết của tình yêu Đấng Christ và là một cơ hội cho sự khoe mình về thập tự giá. Khi tấm lòng của chúng ta trở vấn lấy chùm tia phước hạnh bắt nguồn từ thập tự giá, khi ấy phước hạnh đời nầy gục chết, và Đấng Christ chịu đóng đinh trên thập tự giá là mọi sự.











Thứ Hai, 31 tháng 12, 2012

Lý do 32: "Để Khiến Chúng Ta Không Vì Chính Mình Mà Sống Nữa, Nhưng Sống Cho Đấng Christ"


50 Lý Do Chúa Jêsus Đến Chịu Chết
Để Khiến Chúng Ta Không Vì Chính Mình Mà Sống Nữa,
Nhưng Sống Cho Đấng Christ
            “lại Ngài đã chết vì mọi người, hầu cho những kẻ còn sống không vì chính mình mà sống nữa, nhưng sống vì Đấng đã chết và sống lại cho mình(II Côrinhtô 5:15).

            Đấng Christ đã chết để tôn vinh Đấng Christ, nói như thế là làm cho nhiều người phải bối rối. Sôi sụt trong cốt lõi của nó, II Côrinhtô 5:15 chép Đấng Christ đã chịu chết vì chúng ta để chúng ta sống cho Ngài. Nói khác đi, Ngài đã chịu chết vì chúng ta hầu cho chúng ta làm nhiều việc cho Ngài. Nói thẳng ra, Đấng Christ đã chịu chết vì Đấng Christ. Giờ đây, điều đó là thực. Điều đó không phải là một thủ thuật đâu. Tận cốt lõi của tội lỗi, ấy là chúng ta thất bại không làm vinh hiển cho Đức Chúa Trời — bao gồm cả thất bại không làm sáng danh Con của Ngài nữa (Rôma 3:23). Nhưng Đấng Christ đã chịu chết để gánh lấy tội lỗi và giải phóng chúng ta ra khỏi nó. Vì vậy, Ngài đã chịu chết để gánh lấy phần ô nhục mà chúng ta đã chất trên Ngài do tội lỗi của chúng ta. Ngài đã chịu chết để đảo lộn vấn đề nầy. Đấng Christ đã chịu chết cho sự vinh hiển của Đấng Christ.
            Lý do điều nầy làm bối rối cho nhiều người, ấy là nó có vẻ kỳ cục quá. Dường như không phải làm một việc mà mình ưa thích vậy. Dường như việc ấy đổi sự thương khó của Đấng Christ thành ra ngược lại với những gì Kinh thánh chép về sự ấy, nghĩa là, hành động tối thượng của tình yêu thương. Thực ra là cả hai. Sự chết của Đấng Christ vì chính sự vinh hiển của Ngài và sự chết của Ngài để tỏ ra tình yêu thương không những cả hai đều là sự thực, mà cả hai đều y như nhau.
            Đấng Christ là có một không hai. Không một ai khác có thể hành động theo cách nầy và gọi đó là tình yêu thương. Đấng Christ là con người duy nhứt trong thế gian cũng là Đức Chúa Trời và vì lẽ đó có giá trị vô hạn. Ngài xinh đẹp trong mọi sự trọn lành đạo đức của Ngài. Ngài khôn ngoan, công bình, nhơn đức và mạnh sức.Con là sự chói sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời và hình bóng của bản thể Ngài (Hêbơrơ 1:3). Nhìn xem Ngài, nhận biết Ngài thì thoả lòng hơn là có đủ thứ mà thế gian có thể hiến cho.
            Người nào đã nhìn biết Ngài rõ ràng nhất có thể phát biểu như thế nầy:
            Nhưng vì cớ Đấng Christ, tôi đã coi sự lời cho tôi như là sự lỗ vậy. Tôi cũng coi hết thảy mọi sự như là sự lỗ, vì sự nhận biết Đức Chúa Jêsus Christ là quí hơn hết, Ngài là Chúa tôi, và tôi vì Ngài mà liều bỏ mọi điều lợi đó. Thật, tôi xem những điều đó như rơm rác, hầu cho được Đấng Christ (Philíp 3:7-8).
            “Đấng Christ chịu chết để chúng ta sống cho Ngài” không có ý nói “để chúng ta có thể trợ giúp Ngài”. Ngài cũng chẳng dùng tay người ta hầu việc Ngài dường như có cần đến sự gì (Công Vụ các Sứ Đồ 17:25). Đấng Christ cũng một thể ấy: “Vì Con người đã đến không phải để người ta hầu việc mình, song để hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc cho nhiều người” (Mác 10:45). Vấn đề Đấng Christ đã chịu chết không phải để chúng ta có thể trợ giúp Ngài, mà để chúng ta có thể nhìn xem và thưởng thức Ngài như giá trị vô hạn. Ngài đã chịu chết để giúp chúng ta thôi không lao vào các khoái lạc độc hại và làm cho chúng ta say mê với các khoái lạc về vẻ đẹp của Ngài. Trong phương thức nầy, chúng ta được yêu thương, và Ngài được tôn vinh. Đấy không phải là các mục tiêu có tính cách tranh đua. Chúng là một.
            Chúa Jêsus đã phán cùng các môn đồ Ngài rằng Ngài phải ra đi để Ngài có thể sai Đức Thánh Linh, là Đấng Yên Ủi đến (Giăng 16:7). Kế đó, Ngài nói cho họ biết những điều Đấng Yên Ủi sẽ làm khi Ngài đến: “Ấy chính Ngài sẽ làm sáng danh ta” (Giăng 16:14). Đấng Christ đã chịu chết và sống lại để chúng ta sẽ nhìn xem và tôn vinh Ngài. Đây là sự yên ủi quan trọng nhất trong thế gian. Đây là tình yêu thương. Lời cầu nguyện đáng yêu nhất mà Chúa Jêsus đã từng dâng lên là đây: Cha ôi, Con muốn Con ở đâu thì những kẻ Cha đã giao cho Con cũng ở đó với Con, để họ ngắm xem sự vinh hiển của Con (Giăng 17:24). Đấng Christ đã chịu chết vì điều nầy. Đây là sự yêu thương — chịu thương khó để ban cho chúng ta thưởng thức chính mình Ngài cho đến đời đời.

Thứ Ba, 25 tháng 12, 2012

Lý do 31: "Để Chúng ta Chết Đối Với Luật Pháp Và Kết Quả Cho Đức Chúa Trời"


50 Lý Do Chúa Jêsus Đến Chịu Chết
Để Chúng Ta Chết Đối Với Luật Pháp
Và Kết Quả Cho Đức Chúa Trời
            “Hỡi anh em ta, anh em cũng như vậy, bởi thân thể của Đấng Christ, anh em đã chết về luật pháp, đặng thuộc về người khác, tức là người đã từ kẻ chết sống lại, hầu cho chúng ta được kết quả cho Đức Chúa Trời (Rôma 7:4).
            Khi Đấng Christ chịu chết vì chúng ta, chúng ta chết với Ngài. Đức Chúa Trời nhìn vào chúng ta là những kẻ tin như đã được kết hiệp với Đấng Christ. Sự chết của Ngài vì tội lỗi chúng ta là sự chết của chúng ta ở trong Ngài. (Xem chương trước). Nhưng tội lỗi không phải là thực tại duy nhứt đã giết Chúa Jêsus và chúng ta. Cũng một thể ấy đối với luật pháp của Đức Chúa Trời. Khi chúng ta phá vỡ luật pháp do phạm tội, luật pháp kết án chúng ta phải chịu chết.
            Nếu chẳng có luật pháp, thì sẽ chẳng có hình phạt gì cả. vì … đâu không có luật pháp, thì đó cũng không có sự phạm luật pháp (Rôma 4:15). Nhưng những điều mà luật pháp nói, là nói cho mọi kẻ ở dưới luật pháp, hầu cho … cả thiên hạ đều nhận tội trước mặt Đức Chúa Trời (Rôma 3:19).
            Chẳng có phương thế nào thoát khỏi sự rủa sả của luật pháp hết. Luật ấy là công bình; chúng ta là tội nhân. Chỉ có một cách duy nhứt để được tự do: Ai đó phải trả giá cho án phạt. Đấy là lý do tại sao Chúa Jêsus đã ngự đến: Đấng Christ đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp, bởi Ngài đã nên sự rủa sả vì chúng ta (Galati 3:13).
            Vì lẽ ấy, luật pháp của Đức Chúa Trời không thể xét đoán chúng ta nếu chúng ta đang ở trong Đấng Christ. Quyền lực của nó cai trị chúng ta đã bị phá vỡ gấp bằng hai. Một mặt, mọi đòi hỏi của luật pháp đã được Đấng Christ làm phu phỉ vì ích cho chúng ta. Việc Ngài tuân giữ trọn vẹn luật pháp đã được kể vào trong tài khoản của chúng ta (xem chương 11). Mặt khác, án phạt của luật pháp đã được trả bởi huyết của Đấng Christ.
            Đây là lý do tại sao Kinh thánh dạy rõ ràng đến nỗi việc làm hoà lại với Đức Chúa Trời không chiếu theo việc tuân giữ luật pháp. vì chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà sẽ được xưng công bình trước mặt Ngài (Rôma 3:20). “Người ta được xưng công bình, chẳng phải bởi các việc luật pháp đâu, bèn là cậy đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ (Galati 2:16). Làm hoà lại với Đức Chúa Trời bằng cách tuân giữ luật pháp thì chẳng có hy vọng gì hết. Hy vọng duy nhứt là huyết và sự công bình của Đấng Christ, là hy vọng của chúng ta duy bởi đức tin mà thôi. “Vì chúng ta kể rằng người ta được xưng công bình bởi đức tin, chớ không bởi việc làm theo luật pháp (Rôma 3:28).
            Như vậy, chúng ta làm đẹp lòng Đức Chúa Trời bằng cách nào, nếu chúng ta phải chết đối với luật pháp của Ngài và luật pháp không còn là ông chủ của chúng ta nữa? Luật pháp há chẳng phải là sự bày tỏ ra công bình và tốt lành của Đức Chúa Trời sao (Rôma 7:12)? Câu trả lời theo Kinh thánh, ấy là thay vì thuộc về luật pháp, là thứ đòi hỏi và xét đoán, giờ đây chúng ta thuộc về Đấng Christ là Đấng đòi hỏi và ban bố cho. Trước kia, sự công bình được đòi hỏi từ bề ngoài bằng văn tự viết trên bảng đá. Nhưng giờ đây sự công bình dấy lên bên trong chúng ta như một sự khao khát trong mối quan hệ của chúng ta với Đấng Christ. Ngài đang hiện diện và có thật. Bởi Thánh Linh Ngài, Ngài vùa giúp chúng ta trong sự yếu đuối của chúng ta. Một người sống đã thay thế một bảng danh mục làm cho chết. Vì chữ làm cho chết, song Thánh Linh làm cho sống (II Côrinhtô 3:6). (Xem chương 14).
            Đây là lý do tại sao Kinh thánh chép rằng con đường mới vâng phục là kết quả, chớ không phải tuân giữ luật pháp. Hỡi anh em ta, … anh em đã chết về luật pháp, đặng thuộc về người khác, tức là người đã từ kẻ chết sống lại, hầu cho chúng ta được kết quả cho Đức Chúa Trời (Rôma 7:4). Chúng ta đã chết đối với việc tuân giữ luật pháp để chúng ta sống kết quả. Bông trái lớn lên thật tự nhiên trên cây. Nếu cây là tốt, trái sẽ tốt. Và cây, trong trường hợp nầy, là mối quan hệ sống động của tình yêu thương đối với Đức Chúa Jêsus Christ. Vì điều nầy Ngài chịu chết. Giờ đây Ngài bảo chúng ta đến: “Hãy tin ta”. Chết đối với luật pháp, khi ấy bạn sẽ mang lấy quả của tình yêu thương.

Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2012

Lý do 30: "Để Chúng Ta Chết Đối Với Tội Lỗi Và Sống Cho Sự Công Bình"


50 Lý Do Chúa Jêsus Đến Chịu Chết
Để Chúng Ta Chết Đối Với Tội Lỗi Và Sống Cho Sự Công Bình

            Ngài gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ, hầu cho chúng ta là kẻ đã chết về tội lỗi, được sống cho sự công bình (I Phierơ 2:23).

            Nghe qua thì thật là lạ lùng đó, sự chết của Đấng Christ trong chỗ của chúng ta và vì tội lỗi chúng ta là phương tiện để chúng ta ngã chết. Bạn sẽ nghĩ rằng có một cái chết thế trong chỗ của bạn có nghĩa là bạn sẽ thoát chết. Và, tất nhiên, chúng ta đang thoát chết — sự chết đời đời  thống khổ không dứt và sự phân cách ra khỏi Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus phán: Ta ban cho nó sự sống đời đời; nó chẳng chết mất bao giờ (Giăng 10:28). Còn ai sống và tin ta thì không hề chết (Giăng 11:26). Sự chết của Chúa Jêsus quả thực có ý nói rằng hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời (Giăng 3:16).
            Những còn có ý nghĩa khác nữa, trong đó chúng ta chết vì Đấng Christ đã chịu chết trong chỗ của chúng ta và vì tội lỗi chúng ta. Ngài gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ, hầu cho chúng ta là kẻ đã chết…(I Phierơ 2:23). Ngài đã chịu chết để chúng ta được sống; và Ngài đã chịu chết để chúng ta sẽ chết. Khi Đấng Christ chết, tôi, là một người tin theo Đấng Christ, đồng chết với Ngài. Kinh thánh nói rõ ràng lắm:Vì nếu chúng ta làm một cùng Ngài bởi sự chết giống như sự chết của Ngài (Rôma 6:5). “Nếu có một người chết vì mọi người, thì mọi người đều chết (II Côrinhtô 5:14).
            Đức tin là bằng chứng của việc được hội hiệp với Đấng Christ theo một cách thức quan trọng như thế nầy. Những người tin Chúa “đã bị đóng đinh với Đấng Christ” (Galati 2:20). Chúng ta nhìn lại nơi sự chết của Ngài rồi nhìn biết rằng, trong tâm trí của Đức Chúa Trời, chúng ta đã có mặt ở đó. Tội lỗi của chúng ta đều đặt trên Ngài, và sự chết mà chúng ta đáng chịu sẽ xảy ra cho chúng ta nơi Ngài. Phép báptêm tuyên bố sự chết nầy với Đấng Christ. Vậy chúng ta đã bị chôn với Ngài bởi phép báp-têm trong sự chết Ngài (Rôma 6:4). Nước được ví như nấm mộ. Đi xuống nước là một hình ảnh nói tới sự chết. Còn đi lên là một hình ảnh nói tới đời mới. Và mọi sự của bức tranh nói tới những gì Đức Chúa Trời sẽ làm “bởi đức tin”. Anh em đã bởi phép báp-tem được chôn với Ngài, thì cũng được sống lại với Ngài bởi đức tin trong quyền phép Đức Chúa Trời (Côlôse 2:12).
            Sự thực tôi đã chết với Đấng Christ được nối trực tiếp với sự chết của Ngài vì cớ tội lỗi tôi. “Ngài gánh tội lỗi chúng ta .  .  .hầu cho chúng ta là kẻ đã chết”. Câu nầy có ý nói rằng khi chúng ta vòng tay ôm lấy Chúa Jêsus làm Cứu Chúa của tôi, tôi đang vòng tay ôm lấy sự chết của chính mình trong vai trò một tội nhân. Tội lỗi của tôi đã đem Chúa Jêsus đến mồ mả và đem tôi đến đó với Ngài. Đức tin nhìn xem tội lỗi là tội giết người. Nó đã giết Chúa Jêsus, và nó đã giết tôi nữa.
            Vì vậy, trở thành một Cơ đốc nhân có nghĩa là chết đối với tội lỗi. Bản ngã cũ yêu mến tội lỗi đã chết với Chúa Jêsus. Tội lỗi giống như một kỵ nữ trông chẳng còn xinh đẹp nữa. Nàng là kẻ giết chết Vua của tôi và bản thân tôi. Vì lẽ đó, người tin Chúa đang chết đối với tội lỗi, không còn bị quản trị bởi những sự lôi cuốn của nó nữa. Tội lỗi, là kỵ nữ đã giết chết thiết hữu của tôi, chẳng còn có sức quyến rũ nữa. Nó đã trở thành một kẻ thù.
            Đời mới của tôi giờ đây chịu ảnh hưởng bởi sự công bình. Ngài gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ, hầu cho chúng ta … được sống cho sự công bình (I Phierơ 2:23). Vẻ đẹp của Đấng Christ, là Đấng đã yêu thương tôi và đã phó chính mình Ngài vì tôi, là ước ao của linh hồn tôi. Và vẻ đẹp của Ngài là sự công bình trọn vẹn. Mạng lịnh mà giờ đây tôi muốn vâng theo là đây (và tôi mời bạn hãy cùng hiệp với tôi): Chớ nộp chi thể mình cho tội lỗi, như là đồ dùng gian ác, nhưng hãy phó chính mình anh em cho Đức Chúa Trời, dường như đã chết mà nay trở nên sống, và dâng chi thể mình cho Đức Chúa Trời như là đồ dùng về sự công bình (Rôma 6:13).


Thứ Năm, 29 tháng 11, 2012

Lý do 29: "Để Giải Phóng Chúng Ta Ra Khỏi Tình Trạng Nô Lệ Cho Tội Lỗi"



50 Lý Do Chúa Jêsus Đến Chịu Chết
Để Giải Phóng Chúng Ta
Ra Khỏi Tình Trạng Nô Lệ Cho Tội Lỗi

            “Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, và làm cho chúng ta nên nước Ngài, nên thầy tế lễ của Đức Chúa Trời là Cha Ngài, đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng! (Khải huyền 1:5-6).
            “Ấy vì đó mà chính mình Đức Chúa Jêsus đã chịu khổ tại ngoài cửa thành để lấy huyết mình làm cho dân nên thánh (Hêbơrơ 13:12).

            Tội lỗi chúng ta hủy hoại chúng ta theo hai cách. Nó khiến cho chúng ta phạm tội trước mặt Đức Chúa Trời, để chúng ta phải chịu sự phán xét công bình của Ngài; và nó khiến cho chúng ta ra xấu xí trong cách ăn ở của chúng ta, để chúng ta không còn mang lấy ảnh tượng của Đức Chúa Trời mà chúng ta có ý muốn bày tỏ ra. Nó cáo trách chúng ta với tội lỗi, và nó bắt chúng ta làm nô lệ cho tình trạng không còn biết đến thương cảm nữa.
            Huyết của Chúa Jêsus giải phóng chúng ta ra khỏi hai phần đau khổ đó. Huyết ấy làm thỏa mãn sự công bình của Đức Chúa Trời hầu cho tội lỗi của chúng ta sẽ được buông tha. Và huyết ấy đánh bại quyền lực của tội lỗi bắt chúng ta phải làm nô lệ cho tình trạng không biết đến thương cảm. Chúng ta đã nhìn thấy thể nào Đấng Christ tiếp lấy cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời rồi cất bỏ tội lỗi chúng ta đi. Nhưng giờ đây huyết của Đấng Christ giải phóng chúng ta ra khỏi tình trạng nô lệ cho tội lỗi bằng cách nào?
            Câu trả lời không phải Ngài là tấm gương mạnh mẽ cho chúng ta và cảm thúc chúng ta tự buông tha mình ra khỏi tình trạng ích kỷ. Ổ, phải đấy, Chúa Jêsus là một tấm gương cho chúng ta. Và là một tấm gương rất mạnh mẽ. Ngài bảo chúng ta hãy bắt chước Ngài: Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy (Giăng 13:34). Nhưng lời kêu gọi bắt chước đó không phải là sức mạnh của sự tự do. Có một việc sâu sắc hơn.
            Tội lỗi là một ảnh hưởng rất mạnh như thế trong đời sống chúng ta đến nỗi chúng ta phải được giải phóng bằng quyền phép của Đức Chúa Trời, chớ không phải bởi sức mạnh của ý chí chúng ta đâu. Nhưng kể từ khi chúng ta là hạng tội nhân, chúng ta phải thắc mắc: Có phải quyền phép của Đức Chúa Trời nhắm thẳng vào sự giải phóng hay sự phán xét chúng ta? Đấy là chỗ sự thương khó của Đấng Christ bước vào. Khi Đấng Christ chịu chết để cất bỏ sự xét đoán chúng ta, Ngài đã mở cái van thương xót ở trên trời để đổ ra vì ích cho công cuộc giải phóng chúng ta ra khỏi quyền lực của tội lỗi. Nói khác đi, giải cứu ra khỏi tội lỗi và cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời phải đi trước sự giải cứu ra khỏi quyền lực của tội lỗi bằng sự thương xót  của Đức Chúa Trời. Lời lẽ của Kinh thánh khi nói tới vấn đề nầy là: Sự xưng công bình đi trước và bảo đảm sự nên thánh. Chúng rất khác biệt. Một cái là lời tuyên bố ngay lập tức (không có tội!); còn cái kia là sự biến đổi liên tục.
            Bây giờ, đối với người nào đang tin cậy Đấng Christ, quyền phép của Đức Chúa Trời không ở trong chỗ phục vụ cho cơn thạnh nộ phán xét của Ngài, mà ở trong chỗ thương xót có tính cách giải phóng của Ngài. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta quyền phép làm thay đổi nầy qua Thân vị của Thánh Linh Ngài. Đấy là lý do tại sao vẻ đẹp của “lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ” được gọi là “trái của Thánh Linh” (Galati 5:22-23). Đây là lý do tại sao Kinh thánh có thể đưa ra lời hứa đáng kinh ngạc: Vì tội lỗi không cai trị trên anh em đâu; bởi anh em chẳng thuộc dưới luật pháp, mà thuộc dưới ân điển (Rôma 6:14). Thuộc “dưới ân điển” bảo đảm quyền phép toàn năng của Đức Chúa Trời hủy diệt tình trạng chẳng biết đến thương cảm của chúng ta (không phải một lần đủ cả, mà là tiệm tiến). Chúng ta không thụ động trong việc đánh bại thái độ ích kỷ của chúng ta, mà chúng ta cũng không bày ra quyền phép có tính quyết định được. Đây là ân điển của Đức Chúa Trời. Vì vậy, vị sứ đồ lỗi lạc Phaolô đã nói: “Tôi đã làm nhiều việc hơn các người khác, nhưng nào phải tôi, bèn là ơn Đức Chúa Trời đã ở cùng tôi (I Côrinhtô 15:10). Nguyện Đức Chúa Trời của mọi ơn, bởi đức tin nơi Đấng Christ, giải phóng chúng ta ra khỏi cả tội lỗi và tình trạng làm nô lệ cho tội lỗi nữa.




Thứ Sáu, 23 tháng 11, 2012

Lý do 28: "Giải Phóng Chúng Ta Ra Khỏi Cách Ăn Ở Không Ra Chi Của Tổ Tiên Chúng Ta"


50 Lý Do Chúa Jêsus Đến Chịu Chết
Giải Phóng Chúng Ta Ra Khỏi Các Ăn Ở Không Ra Chi
Của Tổ Tiên Chúng Ta
            vì biết rằng chẳng phải bởi vật hay hư nát như bạc hoặc vàng mà anh em đã được chuộc khỏi sự ăn ở không ra chi của tổ tiên truyền lại cho mình, bèn là bởi huyết báu Đấng Christ, dường như huyết của chiên con không lỗi không vít ( I Phierơ 1:18-19).
            Người đời ở phương Tây, và nhiều dân tộc trong các bộ lạc sống theo kiểu duy linh, họ có chung vấn đề nầy đây: Họ tin nơi quyền phép cách ăn ở không ra chi của tổ tiên họ. Họ gọi quyền phép ấy bằng những danh xưng khác nhau. Hạng người duy linh có thể trao đổi với linh hồn của tổ tiên và chuyển tải các lời nguyền. Hạng người thế tục có thể nói tới ảnh hưởng của di truyền hay thương tổn của bậc làm cha làm mẹ bị ngược đãi, và xa rời về tình cảm. Trong cả hai trường hợp, có một ý thức về số phận mà chúng ta buộc phải sống với lời nguyền hay những tổn thương từ tổ tiên chúng ta. Tương lai dường như hư không và chẳng thấy bóng hạnh phúc.
            Khi Kinh thánh chép: “anh em đã được chuộc khỏi sự ăn ở không ra chi của tổ tiên mình”, Kinh thánh đang đề cập tới một phương thức sống trống rỗng, vô nghĩa, không ích lợi, nó kết thúc với sự hủy diệt. Kinh thánh nói rằng “những sự ăn ở không ra chi” nầy được gắn cho các tổ phụ chúng ta. Kinh thánh không nói bằng cách nào!?! Việc cụ thể là hãy chú ý cách chúng ta được giải phóng ra khỏi sự ăn ở không ra chi nầy. Quyền phép của nhà giải phóng xác định phạm trù của công cuộc giải phóng.
            Sự giải phóng ra khỏi cách ăn ở không ra chi của tổ tiên xảy ra “chẳng phải bởi vật hay hư nát như bạc hoặc vàng”. Bạc và vàng tiêu biểu cho những thứ có giá trị nhất có thể dùng để trả giá cho sự cứu chuộc. Nhưng hết thảy chúng ta đều biết chúng là vô dụng rồi. Hạng người giàu có nhất thường là kẻ bị bắt làm nô lệ cho cách ăn ở không ra chi nầy. Một tù trưởng bộ lạc giàu có có thể bị hành hại bởi nổi lo sợ bùa chú của tổ tiên giáng trên đời sống của ông ta. Một vị Chủ tịch của công ty rất thành công có thể bị lèo lái bởi những thế lực vô thức từ lai lịch của ông ta, nó phá hủy cuộc hôn nhân và con cái của ông ta.
            Bạc và vàng chẳng có quyền gì để cứu hết. Sự thương khó và sự chết của Chúa Jêsus cung ứng những gì là cần thiết: không phải vàng hay bạc mà là “bởi huyết báu Đấng Christ, dường như huyết Chiên Con không lỗi không vít”. Khi Đấng Christ chịu chết, Đức Chúa Trời đã có một nhận định về mối quan hệ giữa chúng ta và tổ tiên của chúng ta. Ngài muốn giải phóng chúng ta ra khỏi cách ăn ở không ra chi mà chúng ta thừa hưởng từ nơi họ. Đấy là một trong những lý do mà Đấng Christ đã chịu chết.
            Không một bùa chú nào có thể đứng nghịch lại bạn được, nếu mọi tội lỗi của bạn hết thảy đều đã được tha, và bạn được mặc cho sự công bình của Đấng Christ, và bạn được chuộc và được yêu thương bởi Đấng Sáng Tạo ra vũ trụ. Sự thương khó và sự chết của Chúa Jêsus là lý do sau cùng tại sao Kinh thánh nói dân sự của Đức Chúa Trời: “không có phù chú nơi Gia-cốp, cũng chẳng có bói-khoa trong Y-sơ-ra-ên (Dân số ký 23:23). Khi Chúa Jêsus chịu chết, mọi ơn phước của thiên đàng đã được mua cho những ai chịu tin cậy Ngài. Và khi Đức Chúa Trời chúc phước, không ai có thể rủa sả được.
            Không một tổn thương nào mà cha mẹ bị trù ẻo trổi hơn sự chữa lành của Chúa Jêsus. Giá chữa lành được gọi là “huyết báu Đấng Christ”. Từ ngữ “báu” có nghĩa là “giá trị vô hạn”. Vì vậy giá chuộc đang trải ra một cách vô hạn. Không một vòng nô lệ nào có thể đứng nghịch lại nó được. Vì vậy, chúng ta hãy xây khỏi vàng và bạc mà hãy vòng tay ôm lấy sự ban cho của Đức Chúa Trời.

Thứ Năm, 22 tháng 11, 2012

Lý do 27: "Để Trở Thành Thầy Tế Lễ Biết Cảm Thương Và Giúp Đỡ"


50 Lý Do Chúa Jêsus Đến Chịu Chết
Để Trở Thành Thầy Tế Lễ
Biết Cảm Thương Và Giúp Đỡ
            “Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội. Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng” (Hêbơrơ 4:15-16).
            Đấng Christ đã trở thành Thầy Tế Lễ của chúng ta bằng cách tự hy sinh trên thập tự giá (Hêbơrơ 9:26). Ngài là Đấng Trung Bảo của chúng ta với Đức Chúa Trời. Sự vâng phục và sự thương khó của Ngài vốn trọn vẹn đến nỗi Đức Chúa Trời không thể ngoảnh mặt đối với Ngài. Vì vậy, nếu chúng ta đến với Đức Chúa Trời qua Ngài, Đức Chúa Trời cũng sẽ không ngoảnh mặt đối với chúng ta đâu.
            Nhưng sự việc còn hơn thế nữa. Trên đường đến với thập tự giá trong ba mươi năm trời, Đấng Christ bị cám dỗ như bao người khác bị cám dỗ. Thực vậy, Ngài không hề phạm tội. Nhưng hạng người khôn ngoan đã cho thấy rằng điều nầy có ý nói sự cám dỗ của Ngài còn mạnh bạo hơn sự cám dỗ của chúng ta, chớ không kém hơn đâu. Nếu một người nhượng bộ trong sự cám dỗ, sự cám dỗ ấy không hề đạt tới mức xung kích đầy đủ và lâu dài nhất. Chúng ta đầu hàng đang khi áp lực vẫn còn đang áp đảo. Song Chúa Jêsus không bao giờ nhượng bộ. Vì thế, Ngài đã gánh chịu trọn áp lực cho đến cuối cùng và không chịu đầu hàng. Ngài biết rõ bị cám dỗ với sức áp đảo trọn vẹn nhất là như thế nào rồi.
            Thời điểm cám dỗ lên tới cao điểm ở chỗ bị lìa bỏ và ngược đãi cực kỳ khiến cho Chúa Jêsus có khả năng tuyệt vời để cảm thương hạng người bị cám dỗ và đau khổ. Không một ai từng chịu đau khổ hơn thế. Không một người nào từng chịu đựng nhiều ngược đãi hơn. Và không có ai đáng phải chịu như thế và có quyền đánh trả lại. Nhưng sứ đồ Phierơ đã nói:Ngài chưa hề phạm tội, trong miệng Ngài không thấy có chút chi dối trá; Ngài bị rủa mà chẳng rủa lại, chịu nạn mà không hề hăm dọa, nhưng cứ phó mình cho Đấng xử đoán công bình (I Phierơ 2:22-23).
            Vì lẽ đó, Kinh thánh chép Ngài có khả năng “cảm thương sự yếu đuối chúng ta” (Hêbơrơ 4:15). Điều nầy thật đáng ngạc nhiên. Con phục sinh của Đức Chúa Trời ở trên trời ngồi bên tay hữu Đức Chúa Trời với mọi quyền bính trên vũ trụ cảm nhận những gì chúng ta cảm nhận khi chúng ta đến với Ngài trong chỗ buồn rầu hay đau khổ — hoặc bị dồn vào đường cùng với những lời hứa của khoái lạc tội lỗi.
            Điều nầy tạo nên sự khác biệt gì chứ? Kinh thánh trả lời bằng cách lập ra một sự kết nối giữa sự đồng cảm của Chúa Jêsus và sự vững lòng của chúng ta nơi sự cầu nguyện. Kinh thánh chép rằng một khi Ngài có khả năng “cảm thương sự yếu đuối chúng ta . . . [vì vậy chúng ta sẽ] vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót  và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng” (Hêbơrơ 4:15-16).
            Rõ ràng, tư tưởng sẽ là như thế nầy đây: Chúng ta cảm nhận là không được hoan nghênh trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời một khi chúng ta phấn đấu mà đến. Chúng ta cảm nhận sự thanh sạch và trọn lành của Đức Chúa Trời một cách kỉnh kiền đến nỗi mọi sự về chúng ta dường như không thích ứng trong sự hiện diện của Ngài. Thế rồi chúng ta nhớ lại rằng Chúa Jêsus biết “cảm thương”. Ngài đồng cảm với chúng ta, chớ không phải nghịch cùng chúng ta. Sự hiểu biết như thế nầy về sự cảm thông của Đấng Christ khiến cho chúng ta dạn dĩ mà đến. Ngài biết rõ tiếng kêu cầu của chúng ta. Ngài đã nếm trải nỗi vật vã của chúng ta. Ngài khiến chúng ta đến với sự vững lòng khi chúng ta cảm thấy có nhu cần. Vì vậy, chúng ta hãy nhớ tới bài hát xưa của John Newton:

Ngươi đang đến với Nhà Vua
Mang theo nhiều lời khẫn cầu
Vì cớ ân điển và quyền phép cả thể của Ngài
Nên chẳng một lời cầu xin nào là quá to tát cả!

Lý do 26: "Đưa Chức Vụ Tế Lễ Trong Cựu Ước Đến Chỗ Kết Thúc Rồi Trở Thành Thầy Tế Lễ Đời Đời"


50 Lý Do Chúa Jêsus Đến Chịu Chết
Đưa Chức Vụ Tế Lễ Trong Cựu Ước Đến Chỗ Kết Thúc Rồi Trở Thành Thầy Tế Lễ Đời Đời
            “Vả lại, số thầy tế lễ rất nhiều, vì sự chết nên không giữ luôn được chức vụ. Nhưng Ngài, vì hằng có đời đời, nên giữ lấy chức tế lễ không hề đổi thay. Bởi đó Ngài có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy. Ấy đó thật là thầy tế lễ thượng phẩm mà chúng ta có cần dùng, thánh khiết, không tội, không ô uế, biệt khỏi kẻ có tội, được cất lên cao hơn các từng trời: không như những thầy tế lễ thượng phẩm khác, cần phải hằng ngày dâng tế lễ, trước vì tội mình, sau vì tội dân; Ngài làm việc đó một lần thì đủ cả, mà dâng chính mình Ngài làm tế lễ” (Hêbơrơ 7:23-27).
            “Vả Đấng Christ chẳng phải vào nơi thánh bởi tay người làm ra, theo kiểu mẫu nơi thánh thật, bèn là vào chính trong trời, để bây giờ vì chúng ta hiện ra trước mặt Đức Chúa Trời. Ấy chẳng phải là dâng chính mình Ngài nhiều lần, như thầy tế lễ thượng phẩm mỗi năm vào trong nơi rất thánh mà dâng huyết không phải là huyết mình; bằng chẳng vậy, thì từ buổi sáng thế đến nay, Ngài đã phải chịu khổ nhiều lần rồi. Nhưng hiện nay đến cuối cùng các thời đại, Ngài đã hiện ra chỉ một lần, dâng mình làm tế lễ để cất tội lỗi đi” (Hêbơrơ 9:24-26).
            “Phàm thầy tế lễ mỗi ngày đứng hầu việc và năng dâng của lễ đồng một thức, là của lễ không bao giờ cất tội lỗi được, còn như Đấng nầy, đã vì tội lỗi dâng chỉ một của lễ, rồi ngồi đời đời bên hữu Đức Chúa Trời” (Hêbơrơ 10:11-12).

            Một trong những thuật ngữ quan trọng nhất của lẽ thật Cơ đốc là “một lần đủ cả”. Thuật ngữ nầy đến từ một chữ Hylạp (ephapax) và có ý nói “một lần trong mọi thời đại”. Từ nầy ý nói tới một việc đã xảy ra vốn có tính quyết định. Hành động đã hoàn tất đủ đến nỗi nó không bao giờ cần được lặp lại. Bất kỳ nổ lực nào muốn lặp lại hành động ấy sẽ làm mất uy tín sự thành tựu đã xảy ra “một lần đủ cả”.
            Đúng là một thực tại ảm đạm, hết năm nầy sang năm khác, các thầy tế lễ trong xứ Israel phải dâng con sinh vì tội lỗi của chính họ và tội lỗi của dân sự. Tôi không có ý nói là chẳng có ơn tha thứ đâu. Đức Chúa Trời đã ấn định các thứ của lễ nầy để làm sự khuây khoả cho dân sự của Ngài. Họ đã phạm tội và cần một sự thay thế để mang lấy hình phạt của họ. Chính ở chỗ có lòng thương xót mà Đức Chúa Trời đã chấp nhập chức vụ của các thầy tế lễ hay phạm tội và con sinh thay thế.
            Nhưng có mặt tối về sự việc nầy. Con sinh phải dâng lên hoài. Kinh thánh chép: Trái lại, những tế lễ đó chẳng qua là mỗi năm nhắc cho nhớ lại tội lỗi (Hêbơrơ 10:3). Dân sự vốn biết rõ khi họ đặt tay mình lên đầu của con bò đực để chuyển tải tội lỗi mình sang con thú, việc ấy rồi sẽ lại được làm nữa. Không có đủ loài thú để gánh thay tội lỗi của con người. Các thầy tế lễ hay phạm tội phải dâng của lễ vì chính tội lỗi của họ. Các thầy tế lễ hay chết phải bị thay thế. Bò đực và dê đực không có đời sống đạo đức và không thể mang lấy lỗi lầm của con người. Vì huyết của bò đực và dê đực không thể cất tội lỗi đi được (Hêbơrơ 10:4).
            Nhưng đã có lớp vải bạc bao quanh đám mây bất toàn của chức tế lễ nầy. Nếu Đức Chúa Trời tôn vinh các thứ bất toàn nầy, điều nầy có ý nói rằng một ngày kia Ngài sẽ sai một tôi tớ xứng đáng đến hoàn tất những gì dòng thầy tế lễ nầy không thể làm được — ấy là cất bỏ tội lỗi đi một lần đủ cả.
            Điều đó cho thấy Đức Chúa Jêsus Christ là ai. Ngài đã trở thành Thầy Tế Lễ sau cùng và là Con Sinh sau cùng. Vô tội, Ngài không dâng các thứ con sinh cho chính mình. Bất tử, Ngài không bao giờ bị thay thế. Là Con Người, Ngài có thể gánh lấy tội lỗi của con người. Vì lẽ đó, Ngài không dâng của lễ cho chính mình Ngài; Ngài đã dâng chính mình Ngài làm của lễ tối hậu. Sẽ chẳng còn cần đến của lễ nào khác nữa. Có một Đấng Trung Bảo đứng giữa chúng ta và Đức Chúa Trời. Một Thầy Tế Lễ. Chúng ta không còn cần ai khác nữa. Ồ, phước hạnh dường bao cho những ai nhờ chỉ một mình Đấng Christ mà đến gần Đức Chúa Trời.





Thứ Ba, 20 tháng 11, 2012

Lý do 25: "Để Trở Thành Nơi Mà Ở Đó Chúng Ta Gặp Gỡ Đức Chúa Trời"


50 lý do tại sao Chúa Jêsus đến và chịu chết
Để Trở Thành Nơi Mà Ở Đó 
Chúng Ta Gặp Gỡ Đức Chúa Trời
          “Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hãy phá đền thờ nầy đi, trong ba ngày ta sẽ dựng lại! Người Giu-đa lại nói: Người ta xây đền thờ nầy mất bốn mươi sáu năm, mà thầy thì sẽ dựng lại trong ba ngày! Nhưng Ngài nói về đền thờ của thân thể mình ( Giăng 2:19-21).
            “Giết Ta, thì Ta sẽ trở thành nơi nhóm lại toàn cầu với Đức Chúa Trời”, đấy là cách mà tôi muốn đóng ngoặc kép Giăng 2:19-21. Họ tưởng Chúa Jêsus đang đề cập tới Đền Thờ tại thành Jerusalem: “Hãy phá đền thờ nầy đi, trong ba ngày Ta sẽ dựng lại”. Nhưng Ngài đang đề cập tới thân thể của Ngài.
            Tại sao Chúa Jêsus lại đưa ra sự kết nối giữa đền thờ của người Do thái và chính thân thể của Ngài? Vì Ngài đã đến để lấy vị trí đền thờ làm nơi nhóm lại với Đức Chúa Trời. Với sự đến của Con Đức Chúa Trời trong xác thịt con người, nghi thức và sự thờ lạy sẽ phải đổi thay. Chính mình Đấng Christ sẽ trở thành Chiên Con Lễ Vượt Qua sau cùng, thầy tế lễ sau cùng, đền thờ sau cùng. Hết thảy mọi sự sẽ qua đi, và Ngài còn lại.
            Những gì còn lại sẽ là tốt hơn theo cách vô hạn. Khi đề cập đến chính mình Ngài, Chúa Jêsus phán: “Vả lại, ta phán cùng các ngươi, tại chỗ nầy có một đấng tôn trọng hơn đền thờ” (Mathiơ 12:6). Đền thờ trở thành nơi ngự của Đức Chúa Trời vào những thời điểm hiếm hoi, khi sự vinh hiển của Đức Chúa Trời đầy dẫy nơi thánh. Nhưng về Đấng Christ, Kinh thánh chép: “Vì sự đầy dẫy của bản tánh Đức Chúa Trời thảy đều ở trong Đấng ấy như có hình” (Côlôse 2:9). Sự hiện diện của Đức Chúa Trời không xảy đến và đang ở trên Chúa Jêsus. Ngài là Đức Chúa Trời. Nơi chúng ta gặp Ngài, chúng ta đang gặp Đức Chúa Trời.
            Đức Chúa Trời gặp gỡ dân sự trong đền thờ qua nhiều đấng trung bảo bất toàn về mặt con người. Nhưng giờ đây, Kinh thánh nói tới Đấng Christ: “Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, là người” (I Timôthê 2:5). Nếu chúng ta muốn gặp gỡ Đức Chúa Trời trong sự thờ phượng, chỉ có một chỗ mà chúng ta phải đi đến, đó là Đức Chúa Jêsus Christ. Cơ đốc giáo không có một trung tâm nào về mặt địa lý giống như Hồi giáo và Do thái giáo.
            Có lần, khi Chúa Jêsus đối diện với một người đàn bà với tội tà dâm, bà ta đã thay đổi đề tài rồi nói: “Tổ phụ chúng tôi đã thờ lạy trên hòn núi nầy; còn dân Giu-đa lại nói rằng nơi đáng thờ lạy là tại thành Giê-ru-sa-lem. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hỡi người đàn bà, … giờ đến, khi các ngươi thờ lạy Cha, chẳng tại trên hòn núi nầy, cũng chẳng tại thành Giê-ru-sa-lem”. Địa lý không phải là vấn đề. Vậy thì là gì? Chúa Jêsus phán tiếp: “Nhưng giờ hầu đến, và đã đến rồi, khi những kẻ thờ phượng thật lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng Cha” (Giăng 4:20-23).
            Chúa Jêsus thay đổi hoàn toàn phạm trù. Không phải trên hòn núi nầy hay trong thành phố kia đâu, mà là bằng tâm thần và lẽ thật. Ngài đã vào trong thế gian để loại bỏ giới hạn về mặt địa lý. Giờ đây chẳng còn có đền thờ nào nữa. Jerusalem không phải là trung tâm. Đấng Christ mới là trung tâm. Bạn có muốn gặp Đức Chúa Trời không? Chúa Jêsus phán: “Ai đã thấy ta, tức là đã thấy Cha” (Giăng 14:9). Bạn có muốn tiếp nhận Đức Chúa Trời không? Chúa Jêsus phán: “ai rước ta, tức là rước Đấng đã sai ta” (Mathiơ 10:40). Bạn có muốn có sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong sự thờ phượng không? Kinh thánh chép: “Ai chối Con, thì cũng không có Cha” (I Giăng 2:23). Có phải chúng ta muốn tôn vinh Đức Chúa Cha không? Chúa Jêsus phán: “Ai không tôn kính Con, ấy là không tôn kính Cha, là Đấng đã sai Con đến” (Giăng 5:23).
            Khi Đấng Christ chịu chết và đã sống lại, đền thờ cũ bị thay thế bởi Đấng Christ mà cả toàn cầu có thể tiếp cận được. Bạn có thể đến với Ngài mà chẳng cần phải vận dụng cơ bắp. Ngài đang ở gần giống như đức tin vậy.

Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2012

Lý do 24: "Để Ban Cho Chúng Ta Được Dạn Dĩ Vào Nới Rất Thánh"


50 lý do tại sao Chúa Jêsus đến và chịu chết
Để Ban Cho Chúng Ta Được Dạn Dĩ 
Vào Nơi Rất Thánh
Hỡi anh em, vì chúng ta nhờ huyết Đức Chúa Jêsus được dạn dĩ vào nơi rất thánh (Hêbơrơ 10:19).
            Một trong những lẽ mầu nhiệm long trọng trong Cựu Ước là ý nghĩa của căn lều dùng để thờ phượng mà dân Isarel sử dụng được gọi là “đền tạm”. Lẽ mầu nhiệm được gợi ý song không rõ ràng đâu. Khi dân Israel ra khỏi Aicập rồi đến tại Núi Sinai, Đức Chúa Trời đã ban các huấn thị chi tiết cho Môise về cách thức xây dựng đền tạm nầy dùng để thờ phượng với các thiết bị bày biện trong đó. Lẽ mầu nhiệm nói về đền ấy chính là mạng lịnh nầy: Vậy, ngươi hãy xem, cứ làm y như kiểu đã chỉ cho trên núi (Xuất Êdíptô ký 25:40).
            Khi Đấng Christ vào trong thế gian 1.400 năm sau đó, “khuôn mẫu” về đền tạm xa xưa nầy được tỏ ra đầy đủ hơn trong “hình” hay “bóng” của những thực tại trên thiên đàng. Đền tạm là hình bóng thuộc về đất nói tới một thực tại thuộc về trời. Vì vậy trong Tân Ước chúng ta đọc như vầy: và giữ sự thờ phượng, sự thờ phượng đó chẳng qua là hình và bóng của những sự trên trời mà thôi, cũng như khi Môi-se gần dựng đền tạm, thì Đức Chúa Trời phán bảo rằng: Hãy cẩn thận, làm mọi việc theo như kiểu mẫu đã chỉ cho ngươi tại trên núi (Hêbơrơ 8:5).
            Cho nên tất cả những cách thể hiện sự thờ phượng của Israel trong Cựu Ước chỉ ra một việc rất thực hơn. Giống như có những căn phòng thánh trong đền tạm, ở đó các thầy tế lễ thường hay dùng huyết của con sinh và gặp gỡ Đức Chúa Trời, thì cũng vậy, có “những nơi thánh” siêu việt hơn ở trên trời, ở đó Đấng Christ bước vào với chính huyết của Ngài một lần đủ cả không phải lặp đi lặp lại nữa.
            Nhưng Đấng Christ đã hiện đến, làm thầy tế lễ thượng phẩm … Ngài đã vượt qua đền tạm lớn hơn và trọn vẹn hơn, không phải tay người dựng ra, nghĩa là không thuộc về đời nầy; Ngài đã vào nơi rất thánh một lần thì đủ hết, không dùng huyết của dê đực và của bò con, nhưng dùng chính huyết mình, mà được sự chuộc tội đời đời” (Hêbơrơ 9:11-12).
            Câu nầy hàm ý nói cho chúng ta biết rằng giờ đây con đường đã mở ra cho chúng ta cùng với Đấng Christ bước vào nơi rất thánh trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Trước kia chỉ có các thầy tế lễ người Do thái mới có thể bước vào “hình” “bóng” của những nơi nầy. Chỉ có thầy tế lễ thượng phẩm mới có thể vào trong nơi chí thánh mỗi năm một lần, sự vinh hiển của Đức Chúa Trời hiện ra ở đó (Hêbơrơ 9:7). Còn có bức màn ngăn cản bảo vệ nơi vinh hiển ấy nữa. Kinh thánh cho chúng ta biết rằng khi Đấng Christ trút hơi thở sau cùng trên thập tự giá: Và nầy, cái màn trong đền thờ, bị xé ra làm hai từ trên chí dưới, đất thì rúng động, đá lớn bể ra (Mathiơ 27:51).
            Điều nầy có ý nói tới việc gì chứ? Phần giải thích được cung ứng qua lời lẽ nầy: Hỡi anh em, vì chúng ta nhờ huyết Đức Chúa Jêsus được dạn dĩ vào nơi rất thánh, bởi đường mới và sống mà Ngài đã mở ngang qua cái màn, nghĩa là ngang qua xác Ngài (Hêbơrơ 10:19-20). Nếu không có Đấng Christ, sự thánh khiết của Đức Chúa Trời cần phải được giữ ngăn cách chúng ta. Ngài không được tôn cao, và chúng ta sẽ bị thiêu đốt vì cớ tội lỗi của chúng ta. Còn bây giờ, vì cớ Đấng Christ, chúng ta có thể đến gần và trang sức tấm lòng mình với vẻ đẹp sáng láng đầy dẫy sự thánh khiết của Đức Chúa Trời. Ngài đáng được tôn cao. Chúng ta sẽ không bị thiêu đốt. Vì cớ Đấng Christ bảo hộ mọi sự, Đức Chúa Trời sẽ được tôn vinh, và chúng ta sẽ đứng trong sự kính sợ đời đời. Vì vậy, hãy đến, đừng sợ. Song hãy nhờ Đấng Christ mà đến.

Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2012

Lý do 23: "Để Chúng Ta Thuộc Về Ngài"


50 lý do tại sao Chúa Jêsus đến và chịu chết
“Để Chúng Ta Thuộc Về Ngài”
            “Hỡi anh em ta, anh em cũng như vậy, bởi thân thể của Đấng Christ, anh em đã chết về luật pháp, đặng thuộc về người khác, tức là người đã từ kẻ chết sống lại, hầu cho chúng ta được kết quả cho Đức Chúa Trời (Rôma 7:4).
            “Anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao? Vì chưng anh em đã được chuộc bằng giá cao rồi” (I Côrinhtô 6:19-20).
            “để chăn Hội thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình (Công Vụ các Sứ Đồ 20:28).

            Câu hỏi tối hậu không phải bạn là ai mà là bạn thuộc về ai kìa. Tất nhiên, có nhiều người nghĩ họ chẳng là nô lệ của ai cả. Họ mơ đến sự độc lập hoàn toàn. Giống như con sứa được thủy triều mang tới, nó cảm thấy mình được tự do vì nó không như loài hàu bị gắn chặt vào một nơi.
            Nhưng Chúa Jêsus có một lời cho những ai suy nghĩ theo cách ấy. Ngài phán: các ngươi sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi. Nhưng họ đáp:Chúng tôi … chưa hề làm tôi mọi ai, vậy sao thầy nói rằng: Các ngươi sẽ trở nên tự do?” Vì vậy Chúa Jêsus đáp: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai phạm tội lỗi là tôi mọi của tội lỗi (Giăng 8:32-34).
            Kinh thánh không đưa ra một thực tại nào với loài người sa ngã, họ là hạng người chuyên tự quyết định. Chẳng có một sự tự chủ nào trong thế giới sa ngã cả. Chúng ta bị tội lỗi cai quản hoặc Đức Chúa Trời cai quản. Anh em há chẳng biết rằng nếu anh em đã nộp mình làm tôi mọi đặng vâng phục kẻ nào. . . . Vả, khi anh em còn làm tôi mọi tội lỗi, thì đối với sự công bình anh em được tự do. . . . Nhưng bây giờ đã được buông tha khỏi tội lỗi và trở nên tôi mọi của Đức Chúa Trời rồi (Rôma 6:16, 20, 22).
            Phần lớn thời gian chúng ta được tự do làm những điều chúng ta mong muốn. Nhưng chúng ta không được tự do muốn những gì chúng ta muốn. Vì nếu như thế, chúng ta cần đến một quyền phép mới dựa theo giá mua thiêng liêng. Quyền phép là quyền phép của Đức Chúa Trời. Đấy là lý do tại sao Kinh thánh chép: Nhưng, tạ ơn Đức Chúa Trời, vì sau khi anh em làm tôi mọi tội lỗi, thì đã từ lòng vâng phục đạo lý là sự đã ban làm mực thước cho mình! (Rôma 6:17). Đức Chúa Trời là Đấng có thểban cho họ sự ăn năn để nhìn biết lẽ thật,  và họ tỉnh ngộ mà gỡ mình khỏi lưới ma quỉ, vì đã bị ma quỉ bắt lấy đặng làm theo ý nó (II Timôthê 2:25-26).
            Và giá mua phóng ra quyền phép nầy là sự chết của Đấng Christ. “Anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao? Vì chưng anh em đã được chuộc bằng giá cao rồi (I Côrinhtô 6:19-20). Và đâu là cái giá mà Đấng Christ đã trả cho những kẻ tin cậy Ngài? “Ngài đã mua [họ] bằng chính huyết mình” (Công Vụ các Sứ Đồ 20:28).
            Giờ đây, quả thực chúng ta đã được giải phóng. Không phải là tự mình sống đâu, mà là mong muốn những điều chi là tốt lành kìa. Một phương thức sống mới hoàn toàn đang mở ra cho chúng ta khi sự chết của Đấng Christ trở thành sự chết của bản ngã cũ của chúng ta. Mối quan hệ với Đấng Christ hằng sống thay thế mọi luật lệ. Và sự sống kết quả trong tự do thay thế cho sự làm nô lệ cho luật pháp. Hỡi anh em ta, anh em cũng như vậy, bởi thân thể của Đấng Christ, anh em đã chết về luật pháp, đặng thuộc về người khác, tức là người đã từ kẻ chết sống lại, hầu cho chúng ta được kết quả cho Đức Chúa Trời (Rôma 7:4).
            Đấng Christ đã chịu thương khó và chịu chết để chúng ta được buông tha ra khỏi luật pháp và sự tội rồi thuộc về Ngài. Đây là chỗ sự vâng phục thôi không còn là một gánh nặng và trở thành sự sống kết quả trong tự do. Hãy nhớ, bạn không thuộc về chính  mình nữa. Bạn sẽ thuộc về ai đây? Nếu thuộc về Đấng Christ, thế thì hãy đến mà thuộc về.